Người mới vào nghề điện thường hỏi câu đầu tiên: “Đồ nghề thợ điện gồm những gì, mua cái nào trước?”. Ra tiệm thì thấy hàng trăm loại kìm, tua vít, bút thử, đồng hồ, máy khoan, đủ mức giá, đủ kiểu quảng cáo “cách điện”, “chuyên dụng”. Mua theo cảm tính thì dễ tốn tiền vào món ít dùng, trong khi lại thiếu đúng những món giữ mạng sống cho mình: dụng cụ kiểm tra hết điện đáng tin cậy, dụng cụ cầm tay có cách điện thật, và đồ bảo hộ đúng loại.
Bài này giúp thợ điện dân dụng và người học nghề lập một bộ đồ nghề cơ bản theo từng nhóm việc: kiểm tra – đo điện, tuốt và nối dây, bấm đầu cos, khoan đục – đi dây, bảo hộ và vật tư mang theo. Mỗi món có giải thích dùng để làm gì, khi chọn cần xem ký hiệu gì, lỗi hay gặp khi dùng và cách bảo quản. Cuối bài có bảng chia đồ nghề theo giai đoạn (học việc, thợ chính, nâng cao), danh sách kiểm tra an toàn và bài tập thực hành. Cách dùng đồng hồ vạn năng chi tiết đã có ở bài dùng đồng hồ vạn năng cho thợ điện; quy trình cắt điện và kiểm tra trước khi chạm vào dây có ở bài 5 quy tắc an toàn bắt buộc.
An toàn trước hết: không có món đồ nghề nào cho phép làm việc khi đang có điện. Kìm, tua vít cách điện 1000 V, găng tay cách điện chỉ là lớp bảo vệ dự phòng khi có sai sót, không phải giấy phép để làm điện “sống”. Trước khi chạm vào dây luôn cắt aptomat, treo biển, kiểm tra hết điện bằng dụng cụ đo đã thử trước trên nguồn có điện. Các con số trong bài (cỡ tua vít, tiết diện dây, cấp điện áp) là giá trị tham khảo; luôn đọc ký hiệu in trên dụng cụ, hướng dẫn của hãng và tiêu chuẩn đang áp dụng.
Nguyên tắc chọn đồ nghề: an toàn trước, tiện sau, rẻ sau cùng
Trước khi đi vào từng món, có ba nguyên tắc giúp thợ mới không mua sai.
Một: mua dụng cụ kiểm tra điện trước tiên và mua loại tốt nhất mình có thể. Một chiếc kìm kém chỉ làm mình mất thời gian; một dụng cụ đo báo sai “hết điện” có thể gây tai nạn. Phần lớn ngân sách ban đầu nên dành cho bút thử, đồng hồ vạn năng và đồ bảo hộ.
Hai: đọc ký hiệu, không đọc quảng cáo. Cán nhựa màu đỏ chưa chắc là dụng cụ cách điện; chữ “1000 V” in to trên vỏ hộp chưa chắc có thử nghiệm. Hãy tìm hai loại ký hiệu dưới đây.
Ký hiệu cách điện trên kìm, tua vít
Dụng cụ cầm tay cách điện dùng cho điện hạ áp thường được sản xuất theo tiêu chuẩn IEC 60900 (hoặc tiêu chuẩn tương đương của từng nước). Dụng cụ đạt chuẩn này thường được in hoặc dập trên cán biểu tượng hai tam giác lồng nhau kèm chữ “1000 V”, cùng tên hãng, năm sản xuất hoặc số lô. Cán thường làm hai lớp màu khác nhau (ví dụ đỏ ngoài, vàng trong): khi lớp ngoài mòn, rách để lộ lớp trong là dấu hiệu phải thay.
Ngược lại, kìm, tua vít chỉ có cán bọc nhựa hoặc cao su để cầm cho êm thì không được tính là dụng cụ cách điện, dù màu sắc trông giống. Nếu trên cán không có ký hiệu rõ ràng, hãy coi nó là dụng cụ thường.
Cấp an toàn CAT trên dụng cụ đo
Đồng hồ vạn năng, ampe kìm, bút thử hai cực thường ghi cấp đo lường (CAT) kèm điện áp, ví dụ “CAT III 600 V”. Cấp CAT nói về khả năng chịu xung quá áp ở vị trí đo (theo nhóm tiêu chuẩn IEC 61010):
CAT II: thiết bị cắm vào ổ cắm, mạch nhánh xa tủ.
CAT III: tủ điện phân phối trong nhà, mạch cố định, aptomat.
CAT IV: đầu nguồn, công tơ, đường dây vào nhà.
Thợ điện dân dụng thường mở tủ điện, đo ở aptomat, nên dụng cụ đo tối thiểu nên là CAT III 600 V (tham khảo); nếu hay đo ở công tơ, đầu cáp vào nhà thì chọn loại có ghi CAT IV. Que đo cũng phải có cấp CAT tương ứng, có nắp chụp đầu kim loại.
Ba: mua đủ dùng, nâng cấp dần. Học việc chỉ cần bộ cơ bản; các máy đắt như đồng hồ đo điện trở cách điện, máy đo tiếp địa có thể mượn của thợ chính hoặc công ty, mua sau khi đã nhận việc thường xuyên.
Nhóm 1: Dụng cụ kiểm tra và đo điện – thiếu thì không được bắt đầu
Đây là nhóm quan trọng nhất. Nguyên tắc chung khi kiểm tra hết điện là thử – đo – thử: thử dụng cụ trên một nguồn chắc chắn có điện, đo chỗ cần làm, rồi thử lại dụng cụ trên nguồn có điện để chắc nó không hỏng giữa chừng.
Bút thử điện tiếp xúc (tua vít thử điện)
Đây là chiếc bút rẻ nhất, quen nhất: đầu kim loại chạm vào điểm cần thử, ngón tay chạm vào nắp kim loại ở đuôi bút, nếu có điện áp pha thì bóng neon hoặc LED trong bút sáng. Bên trong có điện trở rất lớn giới hạn dòng qua người xuống mức rất nhỏ.

Hình 1. Bút thử điện kiểu tiếp xúc, thân nhựa vàng trong, đầu que cắm vào một lỗ của ổ cắm âm tường (loại ổ cắm dùng ở Thụy Sĩ, khác ổ cắm phổ biến ở Việt Nam); ngón tay chạm nắp kim loại ở đuôi bút, đèn bên trong sáng cam báo lỗ đó có điện áp pha. Tay chỉ cầm phần thân cách điện, không chạm phần kim loại ở đầu que. Bút sáng cho biết có điện, nhưng bút không sáng chưa đủ để kết luận đã hết điện. (Ảnh: Simon A. Eugster, Wikimedia Commons, CC BY-SA 4.0)
Bút tiếp xúc tiện để dò nhanh dây pha, nhưng có giới hạn mà thợ phải nhớ:
Bút không sáng chưa có nghĩa là hết điện. Đứng trên ghế nhựa, đi giày đế dày, trời sáng chói, pin yếu (với loại LED) đều có thể làm bút sáng mờ hoặc không sáng.
Bút sáng chưa chắc có điện áp nguy hiểm thật: dây đã cắt nhưng đi song song với dây có điện có thể có điện áp cảm ứng, làm bút sáng mờ.
Bút không kiểm tra được dây trung tính (N) có bị đứt hay không, cũng không cho biết điện áp bao nhiêu.
Thân bút mảnh, không dùng để vặn vít chặt hay nạy, dễ nứt thân nhựa làm mất an toàn.
Vì vậy bút tiếp xúc chỉ là dụng cụ dò bổ trợ, không dùng một mình để xác nhận hết điện trước khi làm.
Bút thử điện không tiếp xúc (NCV)
Loại bút chỉ cần đưa lại gần dây, có điện thì kêu bíp và nháy đèn. Rất tiện để dò dây trong tường, tìm điểm đứt của dây đèn trang trí, kiểm tra nhanh ổ cắm. Nhưng bút NCV dễ báo sai cả hai chiều: không báo khi dây nằm trong ống kim loại, cáp có lớp chống nhiễu, pin yếu; báo “có điện” khi dây chỉ bị cảm ứng. Nhiều đồng hồ vạn năng có sẵn chức năng NCV. Dùng NCV để dò, không dùng để kết luận.
Bút thử hai cực (máy dò điện áp hai cực)
Đây là dụng cụ mà nhiều thợ có kinh nghiệm dùng để xác nhận hết điện: hai đầu đo nối với nhau bằng dây, chạm vào hai điểm (L–N, L–PE, N–PE) và đọc mức điện áp bằng dãy đèn hoặc màn hình. Loại tốt không cần pin vẫn báo được điện áp nguy hiểm, có ghi cấp CAT và tiêu chuẩn riêng cho loại máy dò điện áp hai cực (ví dụ IEC/EN 61243-3). Trong ảnh bìa, chiếc bút thử hai cực có dải đèn báo nằm ngay dưới hộp đầu cos.
Với thợ mới, nếu chưa có bút hai cực thì đồng hồ vạn năng có cấp CAT phù hợp cũng làm được việc xác nhận hết điện, miễn là đo đủ các cặp dây và thử đồng hồ trước – sau.
Đồng hồ vạn năng
Đồng hồ vạn năng là món không thể thiếu: đo điện áp xoay chiều ở ổ cắm, aptomat; đo thông mạch để tìm dây đứt; đo điện trở để kiểm tra phụ tải, tìm chạm vỏ; nhiều loại có thêm đo tụ (hữu ích khi thay tụ quạt), đo tần số, NCV.

Hình 2. Đồng hồ vạn năng số tự chọn thang đo trong túi đựng, kèm nhiều que đo đỏ – đen, que kẹp và đầu đo nhiệt độ. Gần cọc cắm que có in cấp an toàn “1000 V CAT III / 600 V CAT IV”, cọc 20 A và cọc mA/µA tách riêng. Theo mô tả của tác giả ảnh, đây là một mẫu đồng hồ phổ thông giá thấp; với hàng giá thấp, cấp CAT in trên vỏ là thông số nhà sản xuất công bố, nên ưu tiên sản phẩm có chứng nhận và tài liệu rõ ràng. (Ảnh: Retired electrician, Wikimedia Commons, CC0 1.0)
Khi chọn đồng hồ cho nghề điện dân dụng, nên xem:
Cấp CAT và điện áp in gần cọc cắm que (tối thiểu CAT III 600 V, tham khảo).
Cọc đo dòng có cầu chì và cầu chì đúng loại hãng quy định. Đồng hồ không có cầu chì ở cọc A rất nguy hiểm nếu lỡ cắm que nhầm cọc rồi đo điện áp.
True RMS nếu hay đo mạch có biến tần, bộ nguồn xung, đèn LED: kết quả đo dòng, áp sát thực tế hơn.
Que đo có nắp chụp, dây que mềm, không nứt; vỏ có lớp bọc chống va đập.
Màn hình to, có đèn nền, có chức năng giữ số (HOLD) để đo chỗ khuất.
Lỗi nguy hiểm nhất khi dùng đồng hồ là để que đỏ ở cọc đo dòng (A, mA) rồi đi đo điện áp ổ cắm: lúc đó đồng hồ gần như là một dây nối tắt giữa L và N. Tập thói quen nhìn cọc cắm que trước mỗi lần đo.
Ampe kìm
Ampe kìm đo dòng điện bằng cách kẹp hàm quanh một sợi dây, không phải cắt dây hay tháo mạch. Thợ điện dùng ampe kìm để biết một mạch đang tải bao nhiêu, aptomat nhảy vì quá tải hay vì lý do khác, máy bơm, máy lạnh chạy có quá dòng không. Nhiều ampe kìm có luôn chức năng đo điện áp và điện trở như đồng hồ vạn năng.

Hình 3. Ampe kìm loại kim chỉ: núm xoay chọn thang dòng xoay chiều 6 – 60 – 300 A, điện áp xoay chiều 150 – 300 – 600 V và thang điện trở; cạnh cọc cắm que có ghi giới hạn AC 600 V MAX. Ampe kìm đo dòng bằng cách kẹp hàm quanh một lõi dây, không cần cắt dây hay tháo mạch. (Ảnh: K. Krallis SV1XV, Wikimedia Commons, CC0 1.0)
Điều người mới hay làm sai: kẹp cả dây nguồn hai lõi (cả L và N) rồi thấy kết quả gần bằng 0. Dòng đi trên L và về trên N ngược chiều nhau nên từ trường triệt tiêu; phải tách riêng và kẹp một lõi. (Chính nguyên lý này được ampe kìm đo dòng rò dùng để kẹp cả L và N tìm rò điện, nhưng đó là loại ampe kìm có độ nhạy mA, không phải ampe kìm thường.) Trước khi kẹp, kiểm tra vỏ dây không rách, không kẹp vào thanh cái trần trong tủ điện khi không có đồ bảo hộ và hướng dẫn.
Dụng cụ đo nâng cao: mua sau hoặc dùng chung
Đồng hồ đo điện trở cách điện (megomet): kiểm tra cách điện dây trước khi đóng điện, sau khi đi lại dây, khi nhà cũ hay nhảy chống giật. Thường đo ở 500 V DC cho mạch 220 V (tham khảo); phải tháo hết thiết bị điện tử, đèn LED, chống sét lan truyền ra khỏi mạch trước khi đo. Xem thêm bài kiểm tra hệ thống điện nhà cũ.
Máy thử RCD (chống giật) và máy đo điện trở tiếp địa: dùng khi nghiệm thu tủ điện, bình nóng lạnh, nhà có cọc tiếp địa.
Bộ dò dây âm tường, máy dò kim loại: giúp tránh khoan trúng dây, ống nước.
Các máy này đắt và cần học cách dùng; thợ phụ nên học cách dùng trên máy của thợ chính trước khi quyết định mua.
Nhóm 2: Dụng cụ cầm tay cách điện cho tuốt, nối, siết dây
Tua vít
Bộ tua vít là món dùng nhiều nhất. Một bộ cơ bản cho điện dân dụng thường gồm (tham khảo):
Tua vít dẹt vài cỡ nhỏ đến vừa: cỡ nhỏ cho cầu đấu ổ cắm, công tắc, domino; cỡ vừa cho vít aptomat, cầu dao.
Tua vít bake (đầu chữ thập) cỡ PH1 và PH2: vít mặt ổ cắm, đế âm, máng đèn.
Một vài tua vít ngắn cho chỗ chật như hộp âm tường nông.
Nên chọn tua vít cách điện có ký hiệu 1000 V, thân thép bọc cách điện đến gần đầu, chỉ để hở phần mũi. Đầu tua vít phải vừa khít rãnh vít: tua vít nhỏ hơn rãnh dễ làm toét đầu vít, trượt tay vào đầu dây; tua vít to hơn không vào được vít cầu đấu nằm sâu. Không dùng tua vít điện để đục, nạy, gõ búa: lớp cách điện sẽ nứt mà mắt thường không thấy.
Kìm điện, kìm mũi nhọn, kìm cắt
Kìm điện (kìm tổng hợp): kẹp, xoắn dây, cắt dây nhỏ. Là chiếc kìm “đa năng” mọi thợ đều có.
Kìm mũi nhọn: uốn khuyên dây để bắt vít, gắp dây trong hộp chật.
Kìm cắt: cắt dây, cắt dây rút gọn sát. Với cáp to, dùng kìm cắt cáp chuyên dụng thay vì cố cắt bằng kìm nhỏ làm mẻ lưỡi.
Ba chiếc kìm này nên cùng loại cán cách điện có ký hiệu. Trong ảnh bìa, bốn chiếc kìm có cán bọc hai lớp đỏ – vàng, kiểu thường gặp ở dụng cụ cách điện.
Kìm tuốt dây và dao tuốt cáp
Tuốt dây bằng dao rọc hoặc răng cắn là thói quen xấu: dễ khía vào lõi đồng, làm dây yếu, nóng và gãy về sau. Thợ điện nên có:
Kìm tuốt dây có lỗ theo cỡ (ghi sẵn tiết diện, ví dụ 0,75 – 6 mm²), hoặc kìm tuốt tự động kẹp và tuốt một thao tác.
Dao tuốt cáp để rạch vỏ ngoài cáp nhiều lõi mà không cắt vào lớp cách điện bên trong.
Sau khi tuốt, nhìn lại lõi đồng: không có sợi bị đứt, không có vết khía. Độ dài tuốt vừa đủ để lõi vào hết cầu đấu, không lộ đồng bên ngoài. Kỹ thuật nối dây chi tiết có ở bài cách nối dây điện đúng kỹ thuật.
Kìm bấm đầu cos
Dây nhiều sợi (dây mềm) bắt thẳng vào vít aptomat, cầu đấu thường bị xòe sợi, siết không chặt, lâu ngày lỏng và nóng. Cách làm đúng là bấm đầu cos:
Cos pin rạ (cos ống, ferrule) cho dây mềm cắm vào cầu đấu kiểu kẹp vít: aptomat, chống giật, ổ cắm, domino.
Cos tròn, cos chĩa cho cọc bắt vít có long đen: thanh tiếp địa, cọc máy bơm, cầu đấu bình nóng lạnh, động cơ.

Hình 4. Kìm bấm đầu cos pin rạ (ferrule) loại tự điều chỉnh, ngàm bấm vuông, cán đỏ – đen; xung quanh là các đầu cos có cổ nhựa vàng, cam, xám nhiều cỡ, một đoạn dây đỏ đã bấm cos hai đầu và một cos đôi bấm chung hai dây. Theo mô tả của tác giả, kìm này bấm được cos tới 10 mm². Màu cổ nhựa theo cỡ khác nhau giữa các hãng, tiêu chuẩn, luôn đọc cỡ ghi trên bao bì. (Ảnh: Retired electrician, Wikimedia Commons, CC0 1.0)
Mỗi loại cos cần đúng loại kìm bấm: kìm bấm cos pin rạ (ngàm vuông hoặc lục giác), kìm bấm cos có vỏ nhựa (ngàm có chấm màu theo cỡ), kìm bấm cos trần cho cáp to. Không dùng kìm điện bóp dẹt đầu cos thay cho kìm bấm: mối bấm lỏng, dễ tuột và phát nhiệt. Chọn cos đúng tiết diện dây; sau khi bấm thì kéo thử bằng tay, cos không được xoay hay tuột.
Các món nhỏ khác
Dao rọc giấy có khóa lưỡi: rạch băng keo, cắt ống ruột gà, cắt nẹp.
Bộ lục giác, cờ lê nhỏ: tháo nắp tủ điện, chân đế quạt, cọc bắt cáp.
Đèn pin đội đầu: làm trong tủ điện khi đã cắt điện tổng, trên trần thạch cao. Đèn đội đầu giải phóng hai tay, an toàn hơn cầm đèn bằng miệng hay kẹp nách.
Thước cuộn, bút chì, bút lông dầu: đo vạch tuyến, đánh dấu dây.
Nhóm 3: Dụng cụ khoan, đục và đi dây
Phần này phụ thuộc loại việc nhận. Thợ chuyên sửa chữa có thể chỉ cần máy khoan nhỏ; thợ nhận đi dây nhà mới cần nhiều máy hơn.
Máy khoan có chức năng búa (khoan bê tông) kèm mũi khoan tường các cỡ thường dùng cho tắc kê nhựa, mũi khoan sắt, mũi khoan gỗ. Kiểm tra dây nguồn máy không nứt, phích không nứt vỡ.
Máy cắt rãnh tường hoặc máy cắt cầm tay lưỡi kim cương, kèm đục, búa: cắt rãnh đi dây âm tường. Việc cắt tường sinh rất nhiều bụi, cần kính, khẩu trang chống bụi, nút tai. Quy trình cắt rãnh có ở bài đi dây điện âm tường.
Dây mồi (lò xo luồn dây): luồn dây qua ống ruột gà, ống luồn dây đã chôn sẵn. Lò xo uốn ống để uốn ống luồn dây cứng mà không bẹp.
Ni-vô (thước thủy) hoặc máy bắn cốt laser: lắp ổ cắm, công tắc, đèn cho thẳng hàng.
Thang chữ A: ưu tiên thang làm bằng vật liệu không dẫn điện (sợi thủy tinh, composite) khi làm gần dây điện; thang nhôm dẫn điện, nếu dùng phải hết sức cẩn thận và chỉ dùng khi mạch đã cắt điện. Thang phải có khóa chống xòe, chân chống trượt, mở hết khi dùng.
Trước khi khoan bất cứ lỗ nào trên tường, trần, hỏi chủ nhà về đường dây, ống nước âm tường, nhìn vị trí ổ cắm, công tắc để đoán tuyến dây (thường dây đi thẳng đứng hoặc ngang từ hộp), dùng máy dò nếu có.
Nhóm 4: Đồ bảo hộ cá nhân
Đồ bảo hộ là phần thợ mới hay bỏ qua vì “thấy thợ lâu năm không dùng”. Đừng học thói quen đó.
Giày bảo hộ đế cách điện hoặc ít nhất giày đế cao su kín mũi, khô ráo. Không làm điện khi đi chân đất, đi dép tông, đứng trên nền ướt.
Găng tay: phân biệt rõ hai loại. Găng tay lao động thường (vải, da) chống trầy tay khi kéo dây, cắt tường. Găng tay cách điện là loại cao su chuyên dụng có nhãn ghi cấp điện áp sử dụng (theo IEC 60903, cấp 00 dùng tới 500 V xoay chiều, cấp 0 tới 1000 V xoay chiều, tham khảo nhãn của hãng); phải bơm hơi thử thủng trước mỗi lần dùng và cất tránh nắng, tránh vật nhọn.
Kính bảo hộ: khi khoan, cắt tường, cắt dây thép, làm trong tủ điện. Hồ quang khi chập điện có thể bắn kim loại nóng chảy vào mắt.
Khẩu trang chống bụi, nút tai khi cắt rãnh tường.
Quần áo dài tay bằng vải cotton, tránh đồ dễ chảy như vải nylon khi làm trong tủ điện; tháo nhẫn, đồng hồ kim loại, dây chuyền trước khi làm.
Bộ khóa và biển báo: kẹp khóa aptomat (lockout) hoặc ít nhất là biển “Cấm đóng điện – có người đang làm việc” và băng keo dán lên cần aptomat. Trong nhà dân, người nhà rất hay bật lại aptomat vì tưởng mất điện.
Nhóm 5: Vật tư tiêu hao và phụ kiện mang theo
Một chuyến đi sửa điện thường gặp nhất là thay ổ cắm, công tắc, nối lại dây, thay aptomat. Mang sẵn vật tư nhỏ giúp thợ xử lý trọn trong một lần đến, không phải hẹn khách lần hai.

Hình 5. Khay trên của hộp đồ nghề thợ điện: các thanh đồng bắt dây (dạng thanh cái trung tính, tiếp địa), dải cầu đấu nhựa, các túi nhãn đánh số dây màu vàng, cuộn băng keo trắng, đui đèn sứ, một chiếc cờ lê và một aptomat 1 cực C20 còn nguyên hộp – những vật tư nhỏ nên mang theo để xử lý trọn việc trong một lần đến. (Ảnh: Dmitry G, Wikimedia Commons, CC BY-SA 3.0; ảnh đã cắt)
Hộp vật tư cơ bản (tham khảo, tùy loại việc):
Băng keo điện vài màu, ống co nhiệt các cỡ, dây rút nhựa.
Cút nối (đầu nối nhanh, cút xoắn), domino, cầu đấu, đầu cos pin rạ và cos tròn các cỡ hay dùng.
Một ít dây điện các tiết diện thường dùng trong nhà để nối dài, thay đoạn hỏng.
Vít, tắc kê nhựa, đế âm, đế nổi, mặt ổ cắm và công tắc phổ thông.
Một hai aptomat dự phòng các dòng định mức hay gặp, cầu chì, bóng đèn để thử đui.
Nhãn hoặc bút đánh dấu dây để ghi tên mạch trong tủ điện.
Lưu ý: vật tư thay cho khách phải đúng thông số và có nguồn gốc rõ ràng, báo khách loại và giá trước khi thay. Aptomat dự phòng chỉ để thay đúng dòng định mức với cái cũ khi đã kiểm tra dây phù hợp, không phải để “thay to hơn cho khỏi nhảy”.
Bảng tra nhanh: bộ đồ nghề theo giai đoạn
Dụng cụ | Dùng để | Khi chọn cần xem (tham khảo) | Giai đoạn nên có |
|---|---|---|---|
Bút thử điện tiếp xúc | Dò nhanh dây pha | Thân không nứt, đèn sáng rõ khi thử ổ có điện | Học việc |
Bút thử không tiếp xúc (NCV) | Dò dây trong tường, dò điểm đứt | Có chỉnh độ nhạy, báo pin yếu | Học việc |
Đồng hồ vạn năng | Đo V, thông mạch, Ω, xác nhận hết điện | CAT III 600 V trở lên, cọc A có cầu chì, que có nắp chụp | Học việc |
Bộ tua vít dẹt + bake | Siết vít cầu đấu, aptomat, mặt ổ | Ký hiệu hai tam giác + 1000 V, đầu vừa rãnh vít | Học việc |
Kìm điện, kìm mũi nhọn, kìm cắt | Kẹp, uốn, cắt dây | Cán cách điện có ký hiệu, lưỡi khít | Học việc |
Kìm tuốt dây | Tuốt vỏ không khía lõi | Có vạch cỡ theo mm² phù hợp dây trong nhà | Học việc |
Giày đế cách điện, kính, găng lao động | Bảo hộ cơ bản | Vừa chân, đế không mòn thủng | Học việc |
Kìm bấm cos pin rạ, cos tròn | Bấm đầu dây mềm vào aptomat, cọc vít | Đúng loại cos, dải cỡ phù hợp | Thợ chính |
Ampe kìm | Đo dòng tải không cắt dây | CAT III, dải đo đủ cho mạch nhà ở | Thợ chính |
Bút thử hai cực | Xác nhận hết điện | CAT, có tiêu chuẩn máy dò điện áp hai cực | Thợ chính |
Máy khoan búa, máy cắt rãnh | Khoan, cắt rãnh đi dây | Dây nguồn, phích không nứt; có tay cầm phụ | Thợ chính |
Thang chữ A không dẫn điện | Làm trên cao | Khóa chống xòe, chân chống trượt | Thợ chính |
Găng tay cách điện có cấp điện áp | Bảo vệ dự phòng | Nhãn cấp điện áp, ngày thử, không thủng | Thợ chính |
Megomet, máy thử RCD, máy đo tiếp địa | Nghiệm thu, tìm rò điện | Cấp CAT, điện áp thử, có hướng dẫn hãng | Nâng cao (mượn hoặc mua sau) |
Mua đồ nghề: phân biệt hàng tốt và hàng kém
Trên thị trường có rất nhiều dụng cụ in ký hiệu cách điện, cấp CAT nhưng chất lượng thật khó kiểm chứng. Một vài cách kiểm tra khi mua:
Ký hiệu in rõ, sắc nét, có tên hãng, model, năm sản xuất hoặc số lô. Chữ in mờ, nhòe, tem dán bong là dấu hiệu cần cảnh giác.
Mua ở cửa hàng, nhà phân phối có hóa đơn, có bảo hành. Với đồng hồ đo, ưu tiên hãng có tài liệu hướng dẫn rõ ràng, có thông số cầu chì thay thế.
Kiểm tra bằng tay: cán cách điện liền khối với thân, không lỏng, không có khe hở; lưỡi kìm khép khít, không lệch; tua vít không lắc ở chỗ nối cán.
Với đồng hồ vạn năng: mở nắp pin xem cầu chì có ghi dòng định mức và khả năng cắt không; que đo có ghi cấp CAT tương ứng với đồng hồ.
Mua bộ hay mua lẻ? Bộ đồ nghề đóng hộp tiện nhưng hay có món ít dùng và thiếu món cần thiết. Mua lẻ từng món cốt lõi tốt, sau đó bổ sung dần thường hiệu quả hơn.
Nếu ngân sách hạn chế, hãy tiết kiệm ở hộp đựng, túi đeo, máy khoan cho việc nhẹ, đừng tiết kiệm ở dụng cụ đo và đồ bảo hộ.
Kiểm tra và bảo quản đồ nghề trước mỗi ca
Đồ nghề an toàn chỉ an toàn khi còn nguyên vẹn. Tập thói quen kiểm tra nhanh vài phút trước khi đi làm:
Dụng cụ đo: pin còn đủ, màn hình rõ; thử đồng hồ, bút thử trên một ổ cắm chắc chắn có điện; que đo không nứt vỏ, không lộ đồng ở đầu cắm.
Cán cách điện: không nứt, không cháy xém, không rách lộ lớp màu bên trong. Dụng cụ cách điện có lỗi thì bỏ hẳn hoặc đánh dấu “chỉ dùng như dụng cụ thường”, không quấn băng keo để dùng tiếp như dụng cụ cách điện.
Máy cầm tay: dây nguồn không nứt, không có mối nối quấn băng keo; phích cắm không vỡ; công tắc máy bật tắt bình thường.
Đồ bảo hộ: găng cách điện không thủng (thử bơm hơi), kính không nứt, giày không mòn thủng đế.
Vật tư: bổ sung cos, băng keo, cút nối đã dùng hết.
Bảo quản: để dụng cụ đo trong túi hoặc hộp có ngăn, tránh nắng nóng trong cốp xe máy lâu giờ; tháo pin khi không dùng lâu; lau khô dụng cụ sau khi làm ở nơi ẩm; không để dụng cụ cách điện chung ngăn với mũi khoan, dao sắc dễ làm rách cán.
Mang đồ nghề đến nhà khách
Đồ nghề gọn gàng cũng là một phần của tác phong làm việc với khách.
Sắp túi theo nhóm việc: một túi đeo hông hoặc túi nhỏ cho dụng cụ đo và tua vít, kìm hay dùng; một hộp riêng cho vật tư; máy khoan, máy cắt để riêng. Đến nơi không phải đổ hết đồ ra sàn để tìm.
Trải tấm bạt hoặc tấm lót khi đặt đồ nghề, khi khoan cắt; dọn bụi, mẩu dây, vỏ nhựa sau khi làm.
Dùng đồ của mình, không mượn đồ nhà khách cho việc điện: kéo, dao, ghế nhựa, thang gấp của gia đình thường không phù hợp để làm điện.
Cho khách xem kết quả đo khi cần giải thích: ví dụ ampe kìm cho thấy mạch bếp đang tải gần mức aptomat, hoặc đồng hồ cho thấy điện áp thấp. Khách tin hơn khi thấy số đo cụ thể. Cách báo giá và trao đổi công việc có ở bài báo giá, nhận việc và làm việc với khách.
Ba tình huống thực tế
Tình huống 1 – Bút thử không sáng, vẫn bị giật nhẹ. Một thợ học việc thay ổ cắm phòng ngủ, đã tắt aptomat có ghi “phòng ngủ”, dùng bút thử tiếp xúc chạm thử thấy không sáng nên tháo ổ. Khi chạm vào dây thì bị giật tê tay. Nguyên nhân: tủ điện ghi nhãn sai, ổ cắm đó thuộc mạch khác, còn bút thử để trong túi quần nhiều ngày, đầu tiếp xúc bị bẩn nên không sáng. Bài học: luôn thử dụng cụ trên nguồn có điện trước, xác nhận hết điện bằng đồng hồ hoặc bút hai cực, đo đủ các cặp dây.
Tình huống 2 – Ampe kìm báo 0 A dù máy bơm đang chạy. Thợ kẹp ampe kìm quanh dây nguồn hai lõi của máy bơm và thấy gần 0 A, tưởng ampe kìm hỏng. Thực ra dòng đi và về triệt tiêu nhau. Tách riêng một lõi (ở chỗ dây đã được tách sẵn trong hộp nối hoặc ở đầu aptomat, khi có đủ bảo hộ) thì đo được dòng chạy của máy.
Tình huống 3 – Aptomat mới thay bị nóng sau vài tuần. Thợ thay aptomat cho mạch bình nóng lạnh, bắt thẳng dây mềm nhiều sợi vào vít, siết bằng tua vít nhỏ hơn rãnh vít. Vài tuần sau khách báo aptomat nóng, có mùi khét. Mở ra thấy dây xòe sợi, vít siết chưa chặt. Sửa lại: cắt bỏ đoạn đầu dây bị đen, bấm cos pin rạ đúng cỡ, siết bằng tua vít vừa rãnh, kiểm tra lại sau khi chạy tải. Bài học: đúng dụng cụ quyết định chất lượng mối nối.
Danh sách kiểm tra an toàn
Đã có ít nhất một dụng cụ xác nhận hết điện đáng tin cậy (đồng hồ vạn năng CAT phù hợp hoặc bút thử hai cực), không chỉ có bút thử tiếp xúc hoặc NCV.
Thử dụng cụ đo trên nguồn có điện trước và sau khi kiểm tra chỗ làm việc.
Que đo đang ở đúng cọc cắm, đúng thang đo trước mỗi phép đo.
Tua vít, kìm dùng cho việc điện có ký hiệu cách điện, cán không nứt, không rách.
Mang giày đế cách điện khô ráo, kính bảo hộ khi khoan cắt và khi làm trong tủ điện; đã tháo nhẫn, đồng hồ kim loại.
Có biển báo hoặc khóa aptomat; đã báo người nhà không bật lại điện.
Thang chắc chắn, mở hết, có người giữ khi làm trên cao.
Máy khoan, máy cắt có dây nguồn và phích nguyên vẹn, cắm qua ổ có aptomat chống giật nếu có.
Không dùng dụng cụ hỏng cách điện, không “chữa cháy” bằng băng keo.
Việc vượt quá khả năng (tủ điện tổng, đường dây vào nhà, công tơ) phải báo thợ chính hoặc đơn vị điện lực, không tự làm.
Câu hỏi thường gặp
Mới học nghề điện thì nên mua những món nào trước?
Bộ tối thiểu nên gồm: đồng hồ vạn năng có cấp CAT III trở lên, một bút thử điện, bộ tua vít dẹt và bake cách điện, kìm điện, kìm mũi nhọn, kìm cắt, kìm tuốt dây, giày đế cách điện và kính bảo hộ. Kìm bấm cos, ampe kìm, máy khoan bổ sung khi bắt đầu nhận việc lắp đặt và sửa chữa thường xuyên.
Có tua vít, kìm cách điện 1000 V rồi thì có được làm khi đang có điện không?
Không. Dụng cụ cách điện chỉ là lớp bảo vệ dự phòng khi có sai sót như trượt tay, nhầm mạch. Làm việc có điện là công việc riêng, cần đào tạo, quy trình và trang bị đầy đủ, không áp dụng cho sửa chữa điện dân dụng thông thường. Luôn cắt điện và kiểm tra hết điện trước khi làm.
Bút thử điện hay đồng hồ vạn năng, cái nào đáng tin hơn?
Để xác nhận hết điện, đồng hồ vạn năng hoặc bút thử hai cực đáng tin hơn bút thử tiếp xúc và bút không tiếp xúc, vì đo được điện áp giữa các cặp dây cụ thể. Bút thử vẫn có ích để dò nhanh. Cách tốt là dùng cả hai: bút để dò, đồng hồ để xác nhận, và luôn thử dụng cụ trên nguồn có điện trước.
Có cần mua đồng hồ đo điện trở cách điện ngay không?
Thường là chưa cần khi mới học việc. Máy này cần thiết khi nhận đi dây nhà mới, sửa nhà cũ, xử lý nhảy chống giật, nghiệm thu. Lúc đầu có thể học dùng trên máy của thợ chính hoặc công ty; khi nhận loại việc đó thường xuyên thì mới nên đầu tư.
Cán dụng cụ cách điện bị nứt, quấn băng keo dùng tiếp được không?
Không nên dùng như dụng cụ cách điện nữa. Băng keo không thay được lớp cách điện đã được thử nghiệm của nhà sản xuất. Thay dụng cụ mới, hoặc đánh dấu rõ để chỉ dùng cho việc không liên quan đến điện.
Bài tập thực hành
Bài 1 – Lập danh sách đồ nghề của bạn: Liệt kê tất cả dụng cụ bạn đang có theo năm nhóm trong bài (kiểm tra – đo, cầm tay, khoan đục – đi dây, bảo hộ, vật tư). Với mỗi món, ghi ký hiệu cách điện hoặc cấp CAT in trên đó (nếu có). Đánh dấu món nào thiếu so với bảng “Học việc” và lập thứ tự mua.
Bài 2 – Kiểm tra dụng cụ đo: Dưới sự hướng dẫn của thợ chính, thử bút thử và đồng hồ vạn năng trên một ổ cắm có điện; tắt aptomat của ổ đó, đo lại L–N, L–PE, N–PE; bật lại và thử lại dụng cụ. Ghi kết quả vào sổ. Kiểm tra cọc cắm que, cầu chì của đồng hồ và ghi thông số cầu chì.
Bài 3 – Tuốt dây và bấm cos trên bàn: Với các đoạn dây điện cứng và dây mềm không nối điện, tuốt 10 đầu dây bằng kìm tuốt đúng lỗ, kiểm tra không khía lõi; bấm cos pin rạ cho dây mềm và cos tròn cho một đầu dây, kéo thử từng mối. Bắt các đầu dây vào một aptomat và cầu đấu chưa đấu điện, siết bằng tua vít vừa rãnh, nhờ thợ chính kiểm tra.
Kết luận
Đồ nghề tốt không phải là nhiều đồ đắt tiền, mà là đúng món cho đúng việc, có ký hiệu an toàn thật và được kiểm tra trước mỗi ca. Thợ điện dân dụng nên đầu tư trước vào dụng cụ kiểm tra hết điện và đồ bảo hộ, sau đó là bộ tua vít, kìm cách điện, kìm tuốt và kìm bấm cos để mối nối chắc, rồi mới đến máy khoan, máy cắt và máy đo nâng cao theo loại việc nhận. Bộ đồ nghề gọn, sạch, đầy đủ cũng giúp bạn làm nhanh, làm chuẩn và tạo niềm tin với khách ngay từ lần đầu đến nhà.






